Mở rộng mã số vùng trồng, mở đường cho nông sản

Với dư địa lớn và thủ tục đơn giản hóa, Quảng Ngãi đứng trước cơ hội mở rộng mã số vùng trồng nhiều loại cây chủ lực, từng bước nâng cao giá trị nông sản.

Dư địa lớn, mã số vùng trồng còn ít

Toàn tỉnh Quảng Ngãi hiện có 74 mã số vùng trồng với tổng diện tích hơn 830,3 ha. Trong đó, 48 mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu, diện tích hơn 722,4 ha và 26 mã số vùng trồng tiêu thụ nội địa, diện tích 107,9 ha. Quảng Ngãi cũng có 7 mã số cơ sở đóng gói đối với các sản phẩm như chuối, ớt, chanh leo.

So với tiềm năng sản xuất, số lượng mã số vùng trồng của Quảng Ngãi hiện vẫn còn khá khiêm tốn. Đặc biệt, với những cây trồng có giá trị kinh tế cao như sầu riêng, dư địa mở rộng mã số vùng trồng còn rất lớn. Tỉnh này hiện có hơn 4.100 ha sầu riêng nhưng mới chỉ có 22 mã số vùng trồng xuất khẩu, diện tích 343 ha và 4 mã số vùng trồng nội địa, diện tích 25,5 ha.

Theo ông Trần Đức Hiền, thôn Tân Lập, xã Phước Giang, trước đây một trong những khó khăn khiến người dân khó tiếp cận mã số vùng trồng là yêu cầu về quy mô vùng trồng. Có thời điểm, diện tích sầu riêng muốn được cấp mã số phải đạt tối thiểu 10 ha, trong khi nhiều hộ chỉ canh tác 0,2-0,5 ha, lại sản xuất xen canh với các loại cây trồng khác.

Với đặc thù sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, yêu cầu này khiến nhiều diện tích có nhu cầu nhưng chưa thể hình thành vùng trồng đủ điều kiện để cấp mã số. Không chỉ khó ở khâu cấp mã số, việc duy trì và sử dụng mã số vùng trồng sau khi được cấp cũng đặt ra không ít vấn đề. Nếu người dân sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật không đúng quy định, để xảy ra dư lượng vượt ngưỡng hoặc nhiễm hóa chất cấm, không chỉ lô hàng bị ảnh hưởng mà uy tín của cả vùng trồng cũng có thể bị tác động.

Thực tế thời gian qua, cơ quan chức năng tỉnh Quảng Ngãi đã thu hồi một mã số vùng trồng sầu riêng nội địa do không còn nhu cầu sử dụng và một mã số vùng trồng chuối xuất khẩu do chuyển đổi sang cây trồng khác. Đồng thời, một mã số vùng trồng sầu riêng xuất khẩu, một mã số vùng trồng chuối xuất khẩu bị tạm dừng do nhiễm Cadimi; một cơ sở đóng gói ớt cũng bị tạm dừng vì nhiễm Cadimi. Hiện vẫn còn 26 mã số vùng trồng xuất khẩu, 12 mã số vùng trồng nội địa và 6 mã số cơ sở đóng gói chưa được kiểm tra, giám sát.

Những con số này cho thấy, cùng với việc tháo gỡ rào cản trong cấp mã số, Quảng Ngãi cần đặc biệt quan tâm đến công tác hậu kiểm, để mã số vùng trồng thực sự gắn với vùng sản xuất bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc.

Mở rộng mã số đi đôi với hậu kiểm

Một hướng mở đang được kỳ vọng sẽ tạo thuận lợi hơn cho người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp là việc Chính phủ điều chỉnh quy định theo hướng đơn giản hóa thủ tục cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói.

Theo Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP ngày 31/7/2026, cơ chế mới chuyển mạnh từ tiền kiểm sang tự kê khai, tự chịu trách nhiệm và tăng cường hậu kiểm. Thẩm quyền cấp, quản lý mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói được phân cấp cho UBND cấp xã; hồ sơ được thống nhất và thực hiện trực tuyến, qua đó rút ngắn thời gian giải quyết.

Thay đổi này được xem là cơ hội để các địa phương chủ động hơn trong phát triển vùng trồng, đồng thời giảm những thủ tục không cần thiết đối với người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp. Với Quảng Ngãi, dư địa phát triển mã số vùng trồng còn rất lớn khi toàn tỉnh hiện có gần 34.600 ha cà phê, gần 13.600 ha cây ăn quả và hơn 18.000 ha rau các loại. Riêng xã Măng Đen có khoảng 500 ha rau, hoa, củ, quả xứ lạnh, sản lượng cung ứng ra thị trường khoảng 2.000 tấn/năm.

Tại xã Măng Ri, địa phương hiện có hơn 1.000 ha cà phê xứ lạnh, trong đó khoảng 600 ha đã cho thu hoạch, năng suất 18-20 tấn/ha. Tuy nhiên, đến nay trên địa bàn chưa có vùng trồng cà phê xứ lạnh nào được cấp mã số vùng trồng.

Chủ tịch UBND xã Măng Ri Phạm Xuân Quang cho biết, địa phương đang đẩy mạnh tuyên truyền Nghị quyết 36, đồng thời chỉ đạo các bộ phận chuyên môn hỗ trợ người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp thực hiện thủ tục cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.

Theo ông Quang, trong giai đoạn đầu thực hiện phân cấp, cấp xã rất cần sự hỗ trợ về chuyên môn, nghiệp vụ từ cơ quan chuyên ngành cấp tỉnh. Từ khâu lập hồ sơ, kiểm tra thực tế đến giám sát việc sử dụng mã số, cán bộ cấp xã cần được tập huấn, hướng dẫn đầy đủ để thực hiện đúng quy trình.

Tại xã Bình Sơn, 2 ha ớt tại xứ đồng Mã Quý do Hợp tác xã Nông nghiệp Bình Dương sản xuất đã được cấp mã số vùng trồng tiêu thụ nội địa từ tháng 3/2023. Thời gian tới, địa phương sẽ tiếp tục rà soát, kiểm tra mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói, nhất là đối với ớt và dưa hấu, là những nông sản có diện tích sản xuất lớn trên địa bàn.

Theo bà Võ Thị Hiền, Chủ tịch UBND xã Bình Sơn, mã số vùng trồng không chỉ là “mã định danh” của sản phẩm mà còn là đòn bẩy giúp nông sản mở rộng thị trường, từng bước khắc phục tình trạng được mùa mất giá. Vì vậy, địa phương sẽ đồng hành với nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp từ việc kê khai chính xác vị trí, diện tích thửa đất, ghi chép nhật ký sản xuất đến hoàn thiện hồ sơ, đáp ứng yêu cầu của từng thị trường.

Ông Nguyễn Quang Trung, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi cho biết, để nâng tầm giá trị nông sản, các địa phương cần hỗ trợ người dân, Hợp tác xã và doanh nghiệp liên kết hình thành những vùng trồng chuyên canh, áp dụng thống nhất quy trình sản xuất và công nghệ.

Việc hình thành vùng sản xuất tập trung không chỉ thuận lợi cho cấp mã số vùng trồng mà còn giúp kiểm soát tốt hơn an toàn thực phẩm, dư lượng hóa chất và chất lượng sản phẩm. Cùng với đó, cần đẩy mạnh số hóa dữ liệu, bảo đảm liên thông trong quản lý mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói. Ngành nông nghiệp cũng chú trọng hướng dẫn các địa phương kiểm soát Cadimi, sử dụng phân bón, vật tư nông nghiệp đúng chủng loại, liều lượng và quy trình.

Lê Khánh

Nguồn: https://mae.gov.vn/trong-trot-bao-ve-thuc-vat/mo-rong-ma-so-vung-trong-mo-duong-cho-nong-san-22865.htm